This is alternative content.

- Tác hại của các độc tố đối với sức khỏe.
Thứ ba, 23 Tháng 10 2012 14:41

I.  THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT -  NHỮNG HỆ LỤY CỦA NÓ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một trong những yếu tố cần để đảm bảo cho việc tăng suất và làm cho cây trồng xanh tươi. Ngoài mặt tích cực của thuốc BVTV là tiêu diệt các sinh vật gây hại cho cây trồng, bảo vệ mùa màng, . thuốc BVTV còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như gây hại đến các quần thể sinh vật trên đồng ruộng, tiêu diệt sâu bọ có ích, tiêu diệt tôm cá, phá vỡ cân bằng sinh thái . Dư lượng của hóa chất BVTV có thể tồn tại trong nông sản, có thể tồn tại trong nước mặt, ngấm vào đất, di chuyển vào mạch nước ngầm, phát tán theo gió . gây ô nhiễm môi trường.

Phần lớn người ta chỉ đánh giá ích lợi của thuốc BVTV theo kết quả thu hoạch mùa màng. Cách đánh giá như vậy không phản ánh đúng bản chất của nó vì chưa tính đến cái giá phải trả cho vấn đề suy thóai và ô nhiễm trường và tác động lên vấn đề kinh tế xã hội do việc sử dụng thuốc BVTV. Theo ước tính, chỉ 0,1% lượng thuốc BVTV đã phun là có hiệu quả trực tiếp đối với sâu bệnh và cỏ dại cần tiêu diệt, phần còn lại rất lớn (99,9%) sẽ tác động vào môi trường. Hơn nữa, thuốc BVTV còn ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ của con người và gây thiệt hại đáng kể cho môi trường sinh thái. Theo báo cáo của LHQ, hàng năm trên thế giới có khoảng 3 triệu vụ ngộ độc do thuốc BVTV, trong đó có khoảng 220.000 vụ tử vong. Việc sử dụng rộng rãi thuốc BVTV đã và đang làm chết cá, chim nước, những kẻ thù tự nhiên của sâu bọ có hại, những côn trùng thụ phấn cho cây trồng, làm cho hiện tượng kháng thuốc của sâu bệnh ngày càng gia tăng và gây ra nhiều vân đề nghiêm trọng cho môi trường sinh thái.

Chỉ tính riêng ở Mỹ, hàng năm thiệt hại cho môi trường sinh thái do thuốc BVTV gây ra ước tính là 8 tỷ USD. Trên toàn thế giới ước thiệt hại này có thể lên đến 100 tỷ USD.

Ở tất cả các nước, tần suất bị nhiễm thuốc BVTV lớn nhất là ở những người trực tiếp sử dụng thuốc BVTV trong canh tác nông nghiệp và tiếp theo là những người dân sống cạnh các vùng canh tác phun nhiều thuốc BVTV. Nông dân phải thao tác trực tiếp với đa số các loại thuốc BVTV nên nguy cơ bị nhiễm độc ở họ là cao nhât. Các nghiên cứu dịch tễ cho thây ở Mỹ và Châu Âu tỷ lệ ung thư trong nông dân cao hơn nhiều so với những người không làm nông nghiệp. Người ta cũng đã phát hiện ra mối liên quan rõ rệt giữa ung thư phổi với các thuốc trừ sâu có Clo. Mối liên quan giữa bệnh u bạch huyết và một sô' loại thuốc diệt cỏ cũng được dẫn chứng.

Tóm lại, bệnh tật do thuốc BVTV gây ra và các vụ ngộ độc thuốc BVTV ngày càng gia tăng và những ảnh hưởng nghiêm trọng về môi trường đang là một vấn đề cấp bách.

1. Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam

Thống kê của Viện Bảo Vệ Thực Vật Việt Nam, năm 1990 lượng thuốc bảo vệ thực vật từ 10.300 tấn lên 33.000 tấn, đến năm 2003 tăng lên 45.000 tấn và năm 2005 là 50.000 tấn.

2.Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật đối với quần thể sinh vật:

- Các loại thuốc trừ sâu thường có tính năng rộng, nghĩa là có thể diệt được nhiều loại côn trùng, sau khi phun ngoài việc tiêu diệt được sâu bệnh thi còn ảnh hướng sấu đến các loài thiên địch, làm phá vỡ thế cân bằng đã ổn định của của quần thể sinh vật.

-Do sử dụng thuốc liên tục hoặc bằng nhiều loại thuốc có hoạt tính tương tự nhau sẽ dẫn đến việc kháng thuốc hoặc làm cho dịch hại có cơ hội đột biến kho lường hơn.

Tác động đến mô, tế bào của cây trồng, gây hiệu ứng cháy, táp lá, thân làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm

Ruộng đậu nành bị cháy¸ sau khi phun thuốc hóa học BVTV với nồng độ cao

3. Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường:

3.1. Đất:

Nó hủy diệt các sinh vật có lợi lẫn sinh vật có hại có trong đất ,gây một số vùng đất bị nhiễm bệnh ,bạc màu ,khô cằn,không có chất dinh dưỡng tạo mầm bệnh trong đất.

3.2. Nước :

Nước bị ô nhiễm ,thuốc bảo vệ thực vật đi vào cơ thể động vật thủy sinh như tôm cua, cá… làm cho chúng mắc bệnh hoặc dẫn đến chết,hệ dinh thái dưới nước bị hủy hoại đồng thời còn ảnh hưởng tới mạch nước ngầm.

3.3. Không khí:

Chiếm một số khí độc từ thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng tới quá trình hô hấp của nhiều loài sinh vật trên thế giới.

Thuốc hoá học bảo vệ thực vật phát tán vào đất và nước.

4. Đối với con người:

4.1 Thuốc bảo vệ thực vật là các loại hóa chất được sản xuất ra để trừ sâu bệnh và cỏ dại có hại cho cây trồng, góp phần làm tăng sản lượng cây trồng và giảm các thiệt hại trước thu hoạch. Tuy nhiên bên cạnh những mặt lợi đó thì thuốc bảo vệ thực vật gây độc hại đối với sức khỏe con người.

4.2 Các hóa chất bảo vệ thực vật thường có thời gian tồn tại nhất định trên bề mặt cây cối, trong đất gieo trồng. Một số từ đất được rễ cây hút lên lá, hoa và tích lũy trong cây nên các sản phẩm thu hoạch có một lượng tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật. Hiện nay, có tình trạng người sử dụng phun trực tiếp hóa chất bảo vệ thực vật lên nông sản ngay trước ngày thu hoạch; ngâm rau quả vào thuốc để bảo quản lâu ngày hoặc kích thích hoa quả chín nhanh. Đây là nguyên nhân làm tăng lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong các sản phẩm rau quả, gây nguy hiểm đến sức khỏe người sử dụng.

4.3 Khi thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trong thực phẩm vào cơ thể con người qua đường ăn uống, chúng có thể bị loại bớt theo khí thở, theo phân hoặc nước tiểu. Tuy nhiên, các chất độc hại này vẫn chuyển hóa qua gan. Số thuốc bảo vệ thực vật dễ hòa tan trong nước thì sẽ bị loại bỏ nhưng lại có những hóa chất sẽ tạo thành những chất trao đổi trung gian độc hơn, tích lũy trong một số cơ quan hoặc mô mỡ gây tổn thương và kèm theo các triệu chứng ngộ độc nguy hiểm.

4.4 Thuốc bảo vệ thực vật có trong thức ăn, đồ uống với lượng lớn có thể gây ngộ độc cấp tính như gây rối loạn tiêu hóa (nôn mửa, tiêu chảy), rối loạn thần kinh (nhức đầu, hôn mê, co giật hoặc co cứng cơ…), trụy tim mạch, suy hô hấp rất dễ dẫn đến tử vong.

4.5 Những trường hợp ngộ độc mạn tính do tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật hoặc tồn dư trong thực phẩm sử dụng với lượng nhỏ nhưng tích lũy lâu ngày trong cơ thể cũng có thể gây tổn thương ở đường tiêu hóa, hô hấp, tim mạch, thần kinh, rối loạn hệ thống tạo máu, ảnh hưởng đến chức năng gan, thận.